Showing posts with label Lụm Lặt. Show all posts
Showing posts with label Lụm Lặt. Show all posts

4 câu chuyện “dạy” bạn cách đối phó khôn ngoan với thị phi

1/ Quy luật của xe rác

Một hôm tôi nhảy vào một chiếc taxi để ra phi trường. Đang chạy đúng làn bỗng từ bãi đậu xe phía trước một chiếc xe nhà màu đen phóng ra. Người lái taxi thắng kêu một tiếng két và tránh không va chạm xe kia trong đường tơ kẻ tóc!Người lái xe kia ngoái đầu mắng chúng tôi. Người lái taxi chỉ cười vẫy chào lại. Tôi thấy anh thật là tử tế.

Thế nên tôi hỏi “Sao anh hiền vậy? Anh kia suýt tông hư xe anh và mình có lẽ đã phải nhập viện!”

Bấy giờ anh lái taxi dạy tôi bài học này, tôi gọi nó là: “Quy luật của xe rác”Anh giải thích rằng nhiều người cứ như là xe rác vậy. Họ chạy vòng quanh mang theo đầy rác, đầy bực dọc, đầy nóng giận và chán chường. Vì rác của họ đầy ắp, họ cần nơi đổ rác và đôi khi họ trút lên bạn. Đừng mang nó vào mình. Chỉ cần mỉm cười, vẫy chào, chúc điều tốt lành rồi ta cứ đi tiếp. Đừng thèm lấy rác đó rồi mang rải cho người khác nơi làm việc, nơi dọc đường hay mang về nhà.

Người thành đạt quyết không để cho mấy xe chở rác làm hỏng ngày của mình.

–> Cuộc đời quá ngắn để mà cứ sống trong hối tiếc, vậy nên… hãy yêu thương người cư xử tốt với mình và cầu nguyện cho ai xử tệ.Cuộc sống này ta tạo nên nó chỉ mười phần trăm, còn chín mươi phần trăm là tùy thuộc cách ta tiếp nhận nó!

2/ Ngược lại với yêu
Một giáo sư đang giảng về “tiểu thuyết” ở một lớp học của các nhà văn trẻ, giáo sư bỗng dừng lại hỏi các học viên:

- Ngược lại với yêu là gì?

- Ghét ạ!

Giáo sư đi đi, lại lại, trầm ngâm, ông bỏ giáo trình xuống bàn và nói:

- Thế này nhé: Ví như anh đang yêu, sau đó chia tay! 50 năm sau anh 70 tuổi, tình cờ gặp lại người cũ trong một chiều đi dạo. Lúc đó bà nọ chằm chằm nhìn anh và nói: “Ông A ơi tôi ghét ông!”. Nếu tình tiết xảy ra đúng như vậy, anh phải mừng cho bản thân mình!

- Vì sao?

- Vì anh là người may mắn mới có người ghét anh hàng nửa thế kỷ.

- May mắn quái gì, phi lý!

- Bình tĩnh, bình tĩnh, anh nghĩ kỹ xem, ghét cũng cuốn hút tình cảm như yêu như thương, tức là tình cảm của ai đó vẫn nghĩ về anh. Có người ghét anh 50 năm, tức là vẫn nghĩ về anh 50 năm, thật là hiếm có đấy! Anh may mắn không nào? Điều đáng sợ là khi anh gặp lại người cũ, anh hỏi: “Bà B ơi có nhớ tôi không?”. Người nọ đứng đực ra nhìn anh và nói: “Thưa ông, tôi nom ông hơi quen quen, ông là ai?”.

Cả lớp cười ồ lên, câu chuyện tưởng tượng này quả là thú vị pha thêm chút ngượng ngùng…

Giáo sư khẳng định: “Ngược lại với yêu đâu phải là ghét!”.

Cả lớp nhất trí với giáo sư: “Ngược lại với yêu là lãng quên!”.

—> Cách “trả thù” tốt nhất là lãng quên, bơ đi coi như không nghe và sống tiếp 

3/ Thanh gươm của vua Dionysius

Thuở xưa, Dionysius trị vì xứ Syracuse – một xứ sở giàu có nhất vương quốc Sicily. Dionysius sống trong một cung điện nguy nga tráng lệ với vô số đồ vật đắt giá và đông đảo tùy tùng.
Quyền lực và sự giàu có của Dionysius đã khiến nhiều người ở xứ Syracuse ghen tị. Và Damocles – một cận thần thân tín của Dionysius – là một trong số đó. Hắn ta luôn ca thán với nhà vua rằng:
- Ngài thật là may mán! Ngài có tất cả mọi thứ mà người khác ao ước. Ngài chính là người hạnh phúc nhất thế gian.Dionysius chán ngấy khi suốt ngày phải nghe những lời đó của Damocles. Một hôm, nhà vua bảo với người cận thần của mình:
- Sao lúc nào ngươi cũng nghĩ ta hạnh phúc hơn mọi người vậy?
- Nhưng quả thật là vậy, thưa đức vua. – Damocles trả lời. – Hãy nhìn vào quyền lực và tài sản mà Người đang nắm giữ. Người chẳng bao giờ phải bận tâm hay lo nghĩ bất kỳ điều gì. Cuộc sống còn có thể tốt đẹp hơn thế sao?
- Vậy thì ta cho phép ngươi được thay thế ta trong một ngày.
- Ôi! Thần chưa khi nào dám mơ đến điều này. – Damocles sung sướng. – Chỉ cần được ở vào vị trí của ngài một ngày đã là niềm hạnh phúc nhất đối với thần rồi.
- Được thôi! Vậy thì ngày mai ngươi hãy đến đây, rồi ngươi sẽ có được niềm hạnh phúc đó.
Thế là ngày hôm sau, Damocles được dẫn đến cung điện. Theo lệnh của Dionysius, những người hầu trong cung phục vụ Damocles tận tình như phục vụ chủ nhân của họ.
Họ khoác lên người Damocles áo choàng hoàng gia và đặt lên đầu gã chiếc vương miện của nhà vua. Damocles ngồi xuống chiếc bàn lớn trong sảnh ăn và lập tức các cao lương mỹ vị được dọn ra. Chẳng còn gì sung sướng hơn thế nữa đối với Damocles. Những loại rượu quý hiếm, hoa thơm quá ngọt, dầu thơm hảo hạng và nhạc múa rộn rã liên tiếp được dâng lên. Damocles ngồi thư giãn trên tắm nệm êm ái, tận hưởng niềm hạnh phúc vô bờ.
- Ôi! Thế này mới là sống chứ. – Gã thở dài nói với Dionysius đang ngồi phía góc bàn đối diện. – Trước giờ thần chưa từng được tận hưởng cuộc sống tuyệt vời như thế này.
Nói rói gã nâng cốc rượu lên miệng và ngửa mặt lên trần nhà. Nhưng cái gì đang đung đưa trên cao và mũi nhọn chĩa thẳng vào đầu gã thế kia?

Damocles lặng người; nụ cười tắt ngấm trên môi. Khuôn mặt gã tái xanh còn đôi tay thì run lẩy bẩy. Bây giờ, gã chẳng còn thiết đến cao lương mỹ vị hay nhạc múa gì nữa. Điều duy nhất gã nghỉ đến là thoát ngay khỏi chỗ ngồi này, càng nhanh càng tốt.

Ngay trên đầu của Damocles, một thanh gươm được treo vào một sợi dây mỏng mảnh. Lưỡi gươm sắc bén của nó nhắm thẳng vào chính giữa đỉnh đầu gã.

Thoạt tiên, Damocles toan nhảy khỏi ghế và chạy trốn, nhưng gã lập tức từ bỏ ý định vì sợ rằng chỉ cần một chuyển động nhỏ cũng làm đứt sợi dây và khiến thanh gươm rơi thẳng xuống. Damocles ngồi im như tượng đá.
- Có chuyện gì thế? – Dionysius hỏi. – Sao ta thấy ngươi có vẻ căng thẳng vậy?

- Thanh gươm! Thanh gươm trên kia kìa! – Damocles thì thào. – Ngài có thấy nó không?

- Dĩ nhiên là có chứ! – Dionysius đáp. – Ta thấy nó mỗi ngày. Lúc nào nó cũng lơ lừng trên đầu ta và có thể rơi xuống bất cứ khi nào. Nhưng đó chỉ là một phần nổi mà ta cố tình đặt ra để nhắc nhở mình về những tai họa tiềm ẩn khác, chẳng hạn như sự phản bội của các cận thần, sự quay lưng của dân chúng, sự xâm lược của kẻ thù hoặc những quyết định sai lầm của chính bản thân ta. Muốn có quyền lực, trước tiên ngươi phải học cách chấp nhận mọi hiểm nguy và rủi ro, ngươi hiểu không?

- Vâng, thưa đức vua, thần đã thấm thía điều đó. – Damocles trả lời. – Thần không nghĩ ngài phải lo nghĩ nhiều điều như thế này. Hãy trở lại vị trí của ngài, còn thần, thần trở về nhà mình ngay.

Từ đó về sau, Damocles không bao giờ muốn đánh đối vị trí của mình với nhà vua một tích tắc nào nữa.

–> Thử đặt mình vào vị trí người khác, xem họ làm vậy có nguyên nhân gì sâu xa không, trước khi khó chịu vì họ nhé!

4/ Bài học đáng giá

Ngày xưa, có một họa sĩ kiệt suất tên là Ranga. Trong suốt quá trình hoạt động nghệ thuật của mình ông đã cho người đời chiêm ngưỡng nhiều kiệt tác đáng kinh ngạc khiến ai cũng phải trầm trồ khen ngợi.Theo thời gian, tuổi trẻ của Ranga cũng dần qua đi làm ông trăn trở. Sau đó ông quyết định mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp.

Ông hay nói với các học viên rằng:

“Các con chỉ có thể thành công khi làm cho ta hài lòng với kĩ năng và sự hiểu biết của các con.Chính vì thế không mấy khi thấy ông khen ngợi ai và cũng không đề cập đến thời gian kết thúc khóa học. Ông tận tụy truyền cho học trò những bài học về phương pháp đánh giá, ước định hết sức độc đáo. Ranga không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất lại chăm chỉ, sáng tạo nên tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ranga rất hài lòng về cậu học trò này”

Một ngày kia, ông gọi Rajeev đến và bảo:

“Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được, nhưng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.Rajeev vâng lời, cậu chăm chỉ làm việc ngày đêm và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Ranga xem qua rồi bảo:- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.”

Hai ngày sau, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Thầy Ranga mỉm cười an ủi và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng thêm lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác mang đến cho thầy. Ranga nhìn ngắm nó và bảo:- Rajeev con hãy thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Hãy để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.Sau hai ngày, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ thầy của mình.

Ranga nói:

“Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất bại. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não và họ thích thú. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết – những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con đã phải vất vả để làm ra thì đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người
khác quá dễ dàng ”

–> Hãy tập cho mình lối sống khác, hãy sống cho chính mình, và quan tâm những điều mà mình thực sự mong muốn trong cuộc đời, những ý kiến tốt thì tham khảo, còn những chuyện khác thì không nên quan tâm làm gì! 

Sưu tầm

3 mẹo chữa hóc xương cá tức thì bạn nên "dắt lưng" phòng khi cần

Hóc xương cá là tai nạn mà đôi khi không may bạn có thể gặp phải. Nhưng không phải ai cũng biết cần làm gì trong tình huống này.


1. Hóc xương cá có nguy hiểm không?
Khi bị hóc xương cá, nếu chỉ là xương nhỏ thì hầu như chỉ gây khó chịu và việc xử lý cũng đơn giản. Tuy nhiên, nếu là xương to và sắc nhọn thì nguy cơ gây thủng mạch máu và thực quản rất lớn.
Có nhiều trường hợp bị hóc xương to, nhọn, xương lạc vào lồng ngực gây áp xe trung thất, áp xe màng phổi, thủng động mạch... Những trường hợp này nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến nguy cơ tử vong.
2. Hóc xương cá phải làm sao?
Nhiều người có thói quen khi bị hóc xương cá thì ăn một miếng cơm to hoặc nuốt thức ăn để xương theo đồ ăn trôi xuống.
Cách này nếu có thành công thì cũng do may mắn nhưng rủi ro rất cao vì xương có thể cắm sâu hơn vào họng hoặc rơi xuống thấp hơn khiến rất khó xử lý.
Khi bị hóc xương cá, việc bạn cần làm là cố gắng ngừng động tác nuốt vì có cố nuốt cũng không trôi được dị vật mà xương còn có nguy cơ đâm sâu vào cổ họng gây tổn thương.

Hãy cố gắng càng nôn ọe sớm càng tốt nhưng tránh móc họng vì làm như vậy sẽ gây nôn nhiều, dịch axit từ thực quản có thể làm cháy thanh quản, phù nề hoặc khiến người bệnh khó thở.
Những xương to và sắc nhọn thì nguy cơ gây thủng mạch máu và thực quản rất lớn nên cần đến gặp bác sĩ để được xử lý kịp thời, tránh những trường hợp nguy hiểm.
Nếu bạn chắc chắn đó là xương nhỏ và vị trí bị hóc nằm ở cổ họng thì có thể tự xử lý ở nhà theo những cách bên dưới.
3. Mẹo chữa hóc xương cá tại nhà
Có rất nhiều mẹo chữa hóc xương cá nhưng tại đây chúng tôi chỉ mách bạn những cách đơn giản, dễ thực hiện nhất, nguyên liệu cũng dễ kiếm hoặc có ngay trong nhà bạn.
- Chữa hóc xương cá bằng vỏ cam hoặc miếng chanh nhỏ: Khi bị hóc xương cá, bạn có thể ngậm trong miệng một miếng vỏ cam hoặc miếng chanh đã lấy hạt. Xương cá sẽ bị mềm và tan vào nước bọt.
- Chữa hóc xương cá bằng vitamin C: Ngậm một viên vitamin C cũng có thể khiến miếng xương cá bị mềm và tan ra.
- Chữa hóc xương cá bằng tỏi và đường: Khi bị hóc xương bạn có thể lấy một nhánh tỏi đã bóc vỏ nhét vào lỗ mũi bên trái (nếu vị trí chỗ bị hóc ở bên phải) hoặc ngược lại.
Sau đó ngậm một chút đường cho tan dần trong miệng. Miếng xương cá cũng sẽ tự trôi đi.

VIỆT NAM ĐỒNG ĐANG Ở ĐÂU VÀ SẼ ĐI VỀ ĐÂU

Bài viết từ năm 2007 , bây giờ đọc lại vẫn thấy được giá trị của nó. Xin phép đăng lại.

Những số liệu được công bố cho biết trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tăng trưởng GDP của Việt Nam là 27% (tạo ra thêm khoảng 434 ngàn tỷ đồng giá trị sản phẩm quốc nội) nhưng lượng cung tiền lại tăng tới 135%. Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. Nếu lượng tiền đó được lưu thông hết vào thị trường thì sẽ tạo ra khả năng lạm phát lên đến 80% trong quãng thời gian này.
Thế nhưng con số lạm phát danh nghĩa từ 2005 đến 2007 đã được công bố là 27,6% (2005: 8,4%, 2006: 6,6%, 2007: 12,6%), như vậy mức độ lạm phát thêm 52,4% nữa sẽ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào từ đầu năm 2008 trở đi. Nếu loại trừ các yếu tố lạm phát không do tiền tệ (giá đầu vào tăng, kỳ vọng của người dân, v.v..) trong con số 27,6% nêu trên thì mức độ lạm phát tiềm tàng còn cao hơn 52,4% nhiều. Con số này chưa xảy ra vào cuối năm 2007 nghĩa là có trên 600 ngàn tỷ đồng (tương đương 52,4% GDP của năm 2007) đã được phát hành nhưng đang bị ghim giữ bởi một số cá nhân và tổ chức nào đó chưa đẩy cho lưu thông vào thị trường.
Tiền đồng đang ở đâu?
Người dân Việt Nam không có thói quen giữ tiền đồng làm dự trữ an toàn, trong tình hình lạm phát tăng nhanh thì biện pháp này lại càng không được lựa chọn. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì luôn trong tình trạng cần vốn, phải đi vay. Các ngân hàng thương mại không có lý do gì cầm giữ một lượng tiền đồng lớn mà không cho vay ra để phải gánh chịu lãi suất huy động trừ các khoản dự trữ bắt buộc. Khả năng duy nhất là một lượng lớn tiền đồng đang bị ghim giữ bởi các quỹ đầu cơ (hedge fund) buôn chứng khoán tại Việt Nam.
Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO. Vậy là đã hội đủ các yếu tố cần để tạo thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử sừng mềm – cách gọi của Thomas Friedman dành cho các quỹ đầu cơ tài chính trong thời đại toàn cầu hóa – tấn công trục lợi nhanh tại Việt Nam. Các hedge fund mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹ với lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.
Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ) vào thị trường chứng khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từ nguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân. Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần, nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.
Khi mọi người đã đạt đến cơn say ghim giữ cổ phiếu bởi giấc mộng làm giàu nhanh thì tai họa ập xuống. Nhưng tai họa không chỉ đến một lần. Mỗi khi các cổ phiếu được đầu cơ bị bán ra ồ ạt để thu lợi, chỉ số chứng khoán sụt giảm thì ngay sau đó sẽ xuất hiện những thông tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài và được tuyên truyền quá nhiệt tình bởi các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Người dân lại được hâm nóng bằng những hy vọng mới, bầy thú tiếp tục nhồi tiền làm mồi nhử, cổ phiếu lại lên giá, dân lại hồ hởi mua vào. Cái vòng xoáy hút – nhồi ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt năm ngoái đến nay. Tiền trong dân tuôn ra ngày càng nhiều, guồng máy hút – nhồi này lại càng tăng công suất, các ngân hàng trong nước càng nhiều nguy cơ.
Kết quả cuối cùng như thế nào thì giờ đây ai cũng thấy, nhưng thật đáng tiếc là chính phủ vẫn không chịu nhìn thấy, vẫn tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ cơ hội để ra những quyết sách tiếp tay cho bầy thú điện tử. Tổng công ty SCIC dễ dàng tuôn ra 5 ngàn tỷ đồng để gọi là “cứu” chứng khoán nhưng thực tế là giúp cho những con thú điện tử bán ra những cổ phiếu sắp chết để mua vào những cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, chuẩn bị cho một sự thâu tóm.
Còn nhớ vào đầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi bầy thú để đầu cơ trục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượng tiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực. Là một cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều các công ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIC hoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho nó phát triển lành mạnh. Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng động xông vào “cứu” chứng khoán vừa rồi.
Giờ đây, khi mà hàng triệu người đã trở về với “cái máng lợn” thì những con thú điện tử sừng ngắn đã tích lũy được những khoản lời kếch xù, ít thì cũng bằng số vốn bỏ vào, nhiều phải đến một vốn bốn lời. Ngược lại, giá trị tài sản của SCIC đã bốc hơi đến vài chục ngàn tỷ đồng, thế nhưng họ vẫn đang tiếp tục “ôm” vào những cổ phiếu sắp chết. Hiện nay các chỉ số chứng khoán đã lùi về thấp hơn mức trước khi bầy thú tham gia vào thị trường, điều này đồng nghĩa với mấy trăm ngàn tỷ đồng không tự mất đi mà chỉ được dịch chuyển từ túi người dân và túi nhà nước vào túi bầy thú.
Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dân đang dần cạn kiệt. Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch. Sau giai đoạn chứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá. Đồng tiền quốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn.
Tiền đồng đi về đâu?
Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài tăng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồng vượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ. Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trong nước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dàng hút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát. Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô trách nhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngược lại như thực tế đã diễn ra.
Áp dụng cách thức này trong lúc các điều kiện cần để tạo ra thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử đầu cơ đã hội tụ, chính là đưa đến điều kiện đủ cho một cuộc tấn công lũng đoạn có thể bắt đầu. Có nhiều chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước đã không tích cực hút tiền về nên làm lạm phát mạnh, nhưng cần hiểu là không thể thực hiện được điều đó khi mà chính ngân hàng Nhà nước đã tự đặt mình vào bẫy, để quyền điều tiết tiền đồng cho bầy thú kiểm soát.
Luồng vốn đầu tư gián tiếp tập kích ồ ạt vào chứng khoán nhưng hầu như chẳng được đưa vào đầu tư thực sự, nó chạy lòng vòng từ người này qua người khác theo cái vòng xoáy hút – nhồi để cuối cùng quay trở lại túi của bầy thú với trị giá được nhân lên nhiều lần. Các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn xong lại tiếp tục đổ vào chứng khoán, chẳng có bao nhiêu tiền từ nguồn này được đưa vào đầu tư mở rộng kinh doanh tạo thêm sản phẩm cho xã hội.
Rất nhiều các lãnh đạo doanh nghiệp niêm yết vô trách nhiệm còn tiếp tay cho bầy thú điện tử lừa cổ đông để cùng hưởng lợi. Một tỷ lệ nhỏ tiền văng khỏi vòng xoáy của bầy thú, vào túi những kẻ tiếp tay. Số vốn này cuối cùng được đầu cơ vào bất động sản hoặc được cất giữ an toàn tại ngân hàng nước ngoài. Còn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2007 chỉ thực hiện được một phần tư so với đăng ký do những rào cản hành chính, yếu kém hạ tầng và thiếu thốn nguồn nhân lực được đào tạo. Triển khai đầu tư chậm, dòng vốn lưu thông ì ạch thì tiền đâu mà ngân hàng Nhà nước hút vào.
An sinh của gần 86 triệu dân hiện nay đang phụ thuộc hoàn toàn vào sự rộng lượng của “những con sói”. Nếu vài trăm ngàn tỷ đồng đang bị ghim giữ được tung ra đổi thành đô-la Mỹ thì lạm phát sẽ đẩy người dân đến thảm họa. Lượng đô-la này nếu bị đảo chiều – chuyển ra khỏi Việt Nam – thì toàn bộ dự trữ ngoại hối của quốc gia sẽ bốc hơi trong tích tắc nhưng cũng chỉ là muối bỏ bể trước sự thâm hụt cán cân thanh toán và thương mại quốc tế trầm trọng. Một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất không thua gì vụ giá–lương–tiền hồi giữa thập niên 80 của thế kỷ trước sẽ nổ ra ngay sau đó. Tiền đồng – VND sẽ mất giá và rơi tự do.
Ngay đầu năm 2008, rất nhiều các chuyên gia và tổ chức nước ngoài đệ trình lên chính phủ các giải pháp nâng giá tiền đồng so với đô-la Mỹ, thắt chặt tiền tệ, gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các giải pháp này lẽ ra đã phải được khuyến nghị để thực hiện từ giữa 2006 nhằm chống nguy cơ tấn công của bầy thú điện tử trước khi gia nhập WTO, giảm tăng trưởng ảo của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát để kéo dần lãi suất ngân hàng xuống nhằm thúc đẩy đầu tư cho sản xuất kinh doanh thực thụ, nhờ đó nền kinh tế sẽ được tăng trưởng dần theo hướng có chất lượng bền vững.
Thật tiếc rằng các giải pháp vĩ mô trong 2006 – 2007 đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, các nguy cơ không những không được tháo gỡ mà còn bị làm cho trầm trọng hơn. Chiến lược tăng trưởng nhờ thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng xuất khẩu đã ngăn cản việc nâng giá tiền đồng hợp lý nhằm gia tăng sức mua và nhu cầu nội địa – tức là gia tăng mức sống của người dân, một yếu tố quan trọng để tăng trưởng bền vững.
Việc duy trì tiền đồng yếu trong lúc đô-la Mỹ mất giá trung bình khoảng 20% so với các ngoại tệ khác trên thế giới chỉ tạo ra những sức hút ngắn hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác lợi thế giá rẻ nhờ bảo hộ tỷ giá của nhà nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh nhưng đa số là nhập khẩu nhanh những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam rồi khai thác nhân công giá rẻ, nguyên liệu rẻ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi lớn, lợi kép nhờ tỷ giá. Những khoản lợi nhuận này được để bên ngoài Việt Nam bằng cách khai tăng giá nhập thiết bị và vật tư phục vụ xuất khẩu (thuế suất nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp). Giá trị còn lại trong nước chỉ là tiền công và nguyên liệu rẻ mạt, đi kèm với môi trường bị hủy hoại do công nghệ lạc hậu, và sự suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Đã có những cảnh báo về các nguy cơ rối loạn kinh tế lẫn xã hội nếu luồng vốn ngoại không cân đối làm suy yếu nội lực trong nước. Nhưng sự tuyên truyền ầm vang không mệt mỏi của các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư nước ngoài, tô hồng viễn cảnh sáng sủa của nền kinh tế đã át hẳn những tiếng nói có trách nhiệm. Dân chúng tránh sao được sự ảo tưởng và rơi vào vòng xoáy ma lực. Nhiều đề xuất, khuyến nghị chính phủ cần xem xét lại chính sách thúc đẩy xuất khẩu kiểu này nhưng kết luận cuối cùng là càng phải tăng mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu.
Nhưng sự thật trớ trêu là càng xuất khẩu kiểu đó thì nhập siêu càng lớn. Lý do là sức mua của toàn dân sụt giảm nghiêm trọng do tỷ giá tiền đồng thấp hơn thực tế, mà nhu cầu thì ngày càng tăng lên. Trong khi đó lại hoàn toàn thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu nội địa, biểu thuế suất nhập khẩu hàng ngàn mặt hàng (đặc biệt là nông sản) giảm xuống do gia nhập WTO. Lượng nhập khẩu tăng lên là đương nhiên để đáp ứng các nhu cầu trong nước. Giá nhập khẩu cũng phải tăng mạnh do 2 tác động kép của tỷ giá tiền đồng thấp và giá cả thế giới tăng.
Nhập siêu 2007 phi mã đến 12,5 tỷ đô-la Mỹ (hơn 2,5 lần mức 2006) là vẫn còn may mắn. Nếu dầu thô thế giới không tăng giá để mang thêm về cho Việt Nam gần 2,5 tỷ đô-la Mỹ (40 ngàn tỷ đồng) từ xuất khẩu trong 2007 thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Thế nhưng người dân đã không được hưởng gì từ khoản thặng dư của tài nguyên quốc gia này sau khi chính phủ quyết định cắt bỏ 10 ngàn tỷ đồng bù giá xăng dầu trong nước. Sức mua của người dân bị ép giảm sút nặng nề để tăng lợi thế cho đầu tư nước ngoài và xuất khẩu mà ở đó chỉ một nhóm nhỏ các nhà xuất khẩu, chủ yếu từ nước ngoài hưởng lợi.
Giờ đây khi mà tiền đồng đã mất giá thực sự do lạm phát tiền và nội lực trong nước suy kiệt thì các giải pháp nâng giá tiền đồng lại được thực hiện. Lại một cái bẫy. Quyền lợi lại thuộc về nước ngoài. Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước mới yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; chỉ hút hơn 30 ngàn tỷ đồng mà đã làm cả hệ thống tài chính ngân hàng điêu đứng, náo loạn đua nâng lãi suất để động viên người dân chuyển đổi ngoại tệ thành tiền đồng gửi vào ngân hàng. Tiền đồng trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ bị mất giá.
Người dân lại bị cuốn hút vào một cuộc chơi mới của bầy thú điện tử. Các quỹ đầu cơ này đang cần đổi tiền đồng sang đô-la Mỹ, một tỷ giá đô-la Mỹ thấp sẽ rất có lợi cho họ. Tiền đồng bị siết chặt, biên độ tỷ giá đô-la Mỹ được nới lỏng. Đô-la Mỹ rơi xuống gần 15,5 ngàn đồng/USD nhưng bán cũng không ai mua. Trong tuần thứ ba của tháng 3/2008 này bầy thú điện tử đã tung hơn 30 ngàn tỷ đồng để mua vào khoảng 2 tỷ đô-la Mỹ. Ngay lập tức lạm phát gia tăng thêm 3%, đạt mức kỷ lục 9.2% trong chưa đầy 3 tháng đầu năm 2008. Cùng lúc, các ngân hàng chuẩn bị giảm lãi suất huy động.
Cái vòng xoáy hút – nhồi, tăng lên – giảm xuống sẽ được lặp lại nhiều lần như chứng khoán, đến khi mà bầy thú đã nắm trong tay một lượng lớn đô-la Mỹ thì sức mua của tiền đồng sẽ rơi tự do không phanh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI sẽ tăng thêm cỡ 50% nữa, con số này chưa bao gồm những tác động của việc tăng giá đầu vào và sự mất niềm tin của dân chúng. Yếu tố niềm tin này có thể dẫn đến sự sụp đổ không ai có thể lường hết được, nó sẽ vượt quá nhiều lần mọi tính toán kỹ thuật nếu như người dân nhận ra mình đã bị lừa.
Thâu tóm và thôn tính
Nhưng mục tiêu của bầy thú không chỉ đơn giản như vậy. Bây giờ có lẽ chính phủ đã nhận ra được những nguy cơ của lạm phát sẽ tác động khủng khiếp thế nào đến sự bất ổn xã hội. Nếu không muốn cuộc khủng hoảng này bùng nổ ngay trong năm 2008, chính phủ phải thương lượng mua lại khoản tiền đồng khổng lồ của bầy thú. Quá trình thâu tóm đang bắt đầu.
Nhưng tiền đâu để mua khi mà dự trữ ngoại hối của quốc gia quá yếu ớt. Ngay cả có huy động được mọi nguồn lực để có đủ số tiền này thì bầy thú sẽ nói họ không cần đô-la Mỹ vì họ có thể mua nó dễ dàng từ thị trường. Họ muốn quyền kiểm soát các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những tập đoàn được hưởng đặc quyền và đầy lợi thế của nhà nước. Các doanh nghiệp này đã được bảo hộ chặt chẽ trong các điều khoản gia nhập WTO để không chịu sức ép cạnh tranh lớn khi hội nhập. Nhưng giờ đây chúng sẽ được trao quyền kiểm soát chi phối bằng sở hữu đa số thông qua các hiệp định song phương đang được đàm phán vội vã.
Dân chúng đừng vội mừng vì hy vọng vào sự tốt lên của các doanh nghiệp này sau khi có bàn tay của nước ngoài. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy trong một đất nước mà thiếu vắng các chiến lược để tạo ra lợi thế quốc gia trong một hệ thống toàn cầu hóa, và nguồn nhân lực thì thiếu kỹ năng được đào tạo đúng mức, cộng với tham nhũng chi phối các chính sách nhà nước thì bầy thú điện tử sẽ chỉ dùng các doanh nghiệp khổng lồ trong nước được bảo hộ để khai thác thị trường nội địa, buộc người dân phải trả giá cao để có siêu lợi nhuận. Hiệp hội các nhà sản xuất ô-tô (VAMA) vừa vận động nâng thuế nhập khẩu xe hơi để “chống nhập siêu” là một minh chứng cụ thể cho việc đó.
Áp lực đang được gia tăng lên rất mạnh để các điều khoản đảm bảo cho việc thâu tóm dễ dàng đạt được. Bầy thú đang nhả tiếp tiền đồng ra đổi lấy đô-la Mỹ khiến nó lên giá, lạm phát tiếp tục tăng vọt. Trong tình hình này có lẽ những điều kiện cần để thâu tóm sẽ phải hoàn tất trong vòng trên dưới 2 tháng nữa. Từ nay đến đó chứng khoán sẽ tiếp tục hoành hành để gây rối và gia tăng áp lực đàm phán. Đến khi mọi việc được ký kết thì tới lượt bất động sản sẽ được thổi bùng lên, giá trị thật giá trị ảo sẽ lại điên loạn lên một lần nữa – một cuộc chơi mới theo bài cũ. Nó sẽ tạo ra bất ổn đến cuối năm, không chỉ để trục lợi mà còn nhằm lũng đoạn dễ dàng các chính sách vĩ mô để phục vụ cho những kế hoạch tiếp theo.
Nhà nước nếu không cẩn thận thì sẽ bị những kẻ cơ hội tiếp tục thao túng để bơm ra lượng tiền đồng khổng lồ đã thu hồi về nhờ bán rẻ tài sản toàn dân. Trong lúc rối ren, thật giả lẫn lộn thì không khó gì để viện ra những lý do nghe xuôi tai để làm được việc ấy. Lúc đó sẽ không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Đó chính là sự kết thúc.
Nhưng đấy cũng là khởi đầu của sự thôn tính.
Cộng sinh trong toàn cầu
Đất nước ta đang thực sự rất nguy kịch, tiến thoái lưỡng nan mà chỉ có sức mạnh của toàn dân mới có thể giúp vượt qua được. Người dân cần được chia sẻ những thông tin thật để lường trước những khó khăn xấu nhất. Người dân cần được tạo niềm tin từ sự chân thật để cùng nhà nước tìm ra những biện pháp thoát hiểm. Từ trước đến nay dân chúng bị cuốn hút vào những cuộc chơi mà mình không những không có được thông tin đầy đủ mà còn bị làm sai lệch.
Trong khi đó bầy thú thì không thiếu bất kỳ thông tin gì nhờ lấy được từ các định chế tài chính quốc tế như ngân hàng Thế giới (WB), quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Chính phủ phải cung cấp định kỳ cho họ. Thông tin quốc gia là một loại tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, nó càng quan trọng hơn trong thời đại ngày nay. Sự thất bại thuộc phía người dân là tất yếu.
Kinh tế học không phải là môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý. Nó là một khoa học dựa vào hành vi con người và hướng đến con người dù rằng nó dùng các công cụ toán học để mô phỏng và phân tích. Các tính toán lý thuyết kinh tế sẽ không có giá trị gì nếu không gắn nó với việc hiểu ứng xử và động lực của con người.
Không thể điều hành vĩ mô một nền kinh tế thị trường thành công bằng bàn tay hữu hình của chính phủ, vì kinh tế thị trường vốn được vận hành theo qui luật của bàn tay vô hình – cách mà các nhà kinh tế học gọi tên một cơ chế thúc đẩy sự vận động kinh tế thông qua việc tác động vào động lực con người. Thật tiếc là các thế lực bên ngoài đã áp dụng cách này thật nhuần nhuyễn ở Việt Nam.
Chỉ khi nào những người cầm cân nẩy mực hiểu được dân, biết được điểm mạnh của dân, nhìn được điểm yếu của dân, cảm được nỗi đau của dân, hạnh phúc vì niềm vui của dân thì mới có thể xây dựng được những chính sách hợp lòng dân. Còn không thì cho dù là lý thuyết nào đi nữa, được ủng hộ bởi những tổ chức danh giá đến đâu đi nữa, dựa vào mô hình thực tế thành công của thể chế nào đi nữa cũng không thể tránh khỏi sự thất bại.
Trong một đất nước mà sự phát triển dân chủ còn rất nhiều hạn chế, nhà nước ở đó phải thương dân như con thì mới có thể xây dựng một nền kinh tế mạnh, xã hội vững chắc. Đầy tớ mà có trách nhiệm thì thật là hiếm hoi, mà dù có trách nhiệm thế nào thì cũng không bao giờ có tình thương với chủ.
Cái giá của một nền kinh tế trọng ngoại như nước ta sẽ còn những tác hại rất lâu dài. Sẽ không có một thần dược ngoại nào có thể chữa ngay khỏi bệnh. Chỉ có niềm tin của dân, sức mạnh tập hợp của toàn dân trong lẫn ngoài nước mới có thể tạo ra một nội lực đủ sức đề kháng với sự tấn công tiêu cực của ngoại lực, rồi tiến tới trung hòa cộng sinh với nó. Lúc đó đất nước mới có thể phát triển vững bền.
Chỉ khi nào nền kinh tế đất nước hội nhập một cách cộng sinh với hệ thống toàn cầu hóa thì lúc đó mới có thể tránh khỏi những cuộc tấn công như vậy. Người ta không thể đánh vào chính mình. Thật buồn là chúng ta đã tự làm như thế. Hội nhập mà không tạo ra những lợi thế tương hỗ, ràng buộc trong một guồng vận hành khốc liệt của toàn cầu hóa thì không khác gì tự biến mình thành một cái hố hứng rác thải của cái cỗ máy ấy mà thôi.
Tham nhũng và sụp đổ
Hơn lúc nào hết, chính phủ phải nhìn thẳng vào sự thật cho dù nó khắc nghiệt đến mức nào. Khủng hoảng toàn diện một cách trầm trọng là không thể tránh khỏi. Tránh né sự thật, trì kéo mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại sẽ chỉ làm cho nó trầm trọng hơn mà thôi. Sự khốn cùng của dân chúng sẽ càng tồi tệ. Nền kinh tế nước ta từ nhiều năm nay đã tăng trưởng theo kiểu vay mượn tương lai cho thành tích hiện tại. Cuộc khủng hoảng này sẽ là một điểm dừng phải có để chấm dứt cái hệ thống vận hành sai qui luật này.
Trái qui luật nhưng nó vẫn tồn tại một thời gian khá dài chính là nhờ tham nhũng. Tham nhũng tạo ra động lực và bị biến thành công cụ cho một nhóm nhỏ những người cầm quyền và bầy thú điện tử. Quyền tạo ra tiền, tiền biến thành quyền, quyền cần có thành tích để củng cố. Thành tích không thể thật vì tham nhũng nhưng phải được tuyên truyền và thổi phồng làm người dân ảo tưởng, chấp nhận chịu đựng vì hy vọng vào những tương lai tốt đẹp mà chính quyền hứa hẹn. Nhưng niềm tin không thể được xây dựng trên những gì giả tạo. Trong sấm Trạng Trình có câu:
Phú quí hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Thật đúng với thời cuộc. Sự giàu có (phú quí) ở những nơi đô thị (hồng trần) chỉ là ảo (mộng). Đến khi dân chúng rơi vào nghèo khổ cùng cực (bần cùng) thì sự thật (bạch) sẽ phơi bày (phát sinh). Sự sụp đổ niềm tin có sức tàn phá khủng khiếp. Nếu nó không được dẫn dắt bằng lòng nhân ái và quyền lợi dân tộc thì sức mạnh đó sẽ bị lợi dụng cho mục tiêu chính trị ngược lại.
Nên nhớ rằng cuộc khủng hoảng đang xảy ra nhanh chóng vì đã có một sự phá vỡ cái thế cân bằng ảo. Đất nước không được xây dựng để cộng sinh trong hệ thống toàn cầu hóa, nhưng lại hình thành sự cộng sinh giữa những kẻ tham nhũng, cơ hội trong chính quyền với bầy thú điện tử để chi phối các hoạt động xuyên suốt của đất nước mà nhiều người lầm tưởng là sự ổn định. Nhưng giờ đây bầy thú không thể bỏ qua thời cơ tuyệt vời để có nhiều quyền lợi hơn và đứng lên trên cái hệ thống cộng sinh đó. Sự cân bằng bị phá vỡ vì thế.
Sức dân và mệnh nước
Toàn dân cần được chuẩn bị để đối phó với cuộc khủng hoảng mà đỉnh điểm của nó sẽ rơi vào năm sau – Kỷ Sửu 2009. Tất cả những gì nhà nước cần tập trung lúc này là HẬU SỨC DÂN. Làm sao phải gia tăng sức mạnh vật chất lẫn tinh thần cho dân đủ sức chịu đựng khó khăn để vượt qua và xoay chuyển tình thế. Bổ sung sức mạnh vật chất là cần thiết nhưng trong điều kiện hiện nay thì không thể đủ mạnh. Chỉ có sức mạnh của niềm tin và sự đồng lòng mới có thể tạo ra vận thế mới.
Chính phủ đang kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng và đề ra các giải pháp “chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô” như vừa rồi thì không thể hậu sức dân. Chỉ đơn cử việc giảm đầu tư công. Các bộ ngành, địa phương đang bàn về cắt giảm ngân sách đầu tư bằng việc cắt bớt các dự án. Giảm đầu tư trong nước tức là giảm nội lực. Cấu trúc hiện nay của nền kinh tế đang phụ thuộc rất lớn vào đầu tư công vì nó chiếm đến 40% tổng đầu tư quốc gia. Trong khi mà chưa có những cơ chế, chính sách để cho phép và hỗ trợ khu vực dân doanh đầu tư thay thế nhà nước thì việc rút giảm đầu tư công sẽ tạo ra một khoảng trống cực kỳ tai hại.
Toàn dân vẫn cần những đầu tư ấy để tạo ra hạ tầng, công ăn việc làm – những thứ mà Việt Nam còn thiếu thốn nhiều một thời gian dài nữa. Việc chính phủ cần làm là đảm bảo hiệu quả đầu tư công, hay nói theo kinh tế học là giảm chỉ số ICOR xuống. Thống kê chỉ số này của nhà nước cho thấy ICOR của đầu tư công là 8 (tức đầu tư đến 8 đồng mới làm ra thêm 1 đồng tăng trưởng). Đầu năm 2007, một thành viên của chính phủ trả lời trước công chúng giải thích rằng chỉ số này cao vì năng suất lao động của đất nước còn thấp.
Nhưng không thấy có ai hỏi tiếp rằng tại sao cùng với những người lao động Việt Nam mà khu vực dân doanh, dù trình độ quản lý cũng chưa hiện đại nhưng chỉ số này chỉ có 4 (chỉ cần 4 đồng đầu tư sẽ tạo ra 1 đồng tăng trưởng), của khu vực nước ngoài là 2.7. Không hỏi vì ai cũng biết rằng hiệu quả đầu tư công thấp là do tham nhũng.
Chỉ cần làm được như khu vực dân doanh thì cùng một dự án đầu tư nhà nước có thể giảm được một nửa số vốn bỏ ra mà dân chúng vẫn được hưởng thành quả không đổi. Một nửa ấy từ trước đến nay do tham nhũng mà thất thoát. Theo kế hoạch 5 năm từ 2006 – 2010, mỗi năm đầu tư công lên đến 270 ngàn tỷ đồng, một nửa số tiền đó mà tiết kiệm được và dùng để hậu sức dân thì thật là có ý nghĩa. Còn nếu cắt giảm theo kiểu số lượng thì chỉ gia tăng sức mạnh cho những kẻ tham nhũng, cơ hội. Lạm phát sẽ càng tăng dù trị giá đầu tư có giảm. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện tình trạng chạy để được giữ lại các dự án. “Mạnh vì gạo”, ai chi nhiều hơn thì sẽ được tiếp tục đầu tư, tỷ lệ thất thoát sẽ càng gia tăng, chất lượng đầu tư càng giảm, lạm phát càng tăng là vì thế. Dân sẽ vẫn lãnh đủ.
Giải pháp hiệu quả nhất hiện nay thật đơn giản mà không đơn giản: triệt tiêu tham nhũng. Làm được việc này thì sẽ gia tăng nguồn lực cho dân, củng cố niềm tin của dân. Chính là hậu sức dân. Nhưng điều này thật quá khó cho chính quyền hiện nay khi mà luật pháp trong nước bị bóp méo bởi những kẻ tham nhũng – cơ hội, và những định chế quốc tế bị chi phối bởi bầy thú điện tử. Một kẻ như Bùi Tiến Dũng lại được ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam khẳng định là không có dấu hiệu tham nhũng để rộng đường cho một phiên tòa chỉ xử tội đánh bạc. Nguyễn Việt Tiến cũng vừa được thả ra và phục hồi quyền lợi mà không qua xét xử. Cái hệ thống cộng sinh này là như thế đấy.
Chính phủ thực hiện các giải pháp vĩ mô như hiện nay sẽ tiếp tục hậu ngoại lực, ép nội lực dù vô tình hay hữu ý. Càng nhiều bàn tay hữu hình thò ra thì càng dễ bị giật dây điều khiển. Chưa hết tháng 3/2008 mà nhập siêu đã phi đến 7 tỷ đô-la Mỹ, bằng 56% của cả năm 2007, vượt xa con số 4,8 tỷ của 2006. Ấy vậy mà nhận định mới nhất của chính phủ trước thường vụ Quốc hội là vẫn tin tưởng cân đối được cán cân thanh toán quốc tế do Việt Nam vẫn đang là điểm sáng của thu hút đầu tư nước ngoài.
Sao vẫn tiếp tục trông chờ vào ngoại lực mà không nhìn nhận thực tế là đất nước này đang còn cầm cự được phần nào trước sự thâm hụt mậu dịch lâu nay là nhờ vào kiều hối 2 tỷ đô-la Mỹ của gần nửa triệu lao động Việt đang phải chịu cực khổ, tủi nhục, cả bỏ mạng ở nước ngoài, 5 tỷ đô-la Mỹ của hơn 3 triệu đồng bào Việt định cư ngoài nước gửi về hàng năm mà không kèm bất kỳ điều kiện và đòi hỏi nào; nhờ vào tiền công lao động rẻ mạt của hàng triệu lao động nghèo trong nước còn giữ lại được từ xuất khẩu; và của hàng chục triệu nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời làm ra những nông sản để xuất khẩu. Không hề thấy chính phủ phân tích và đề cập đến việc chăm sóc các nguồn lực này như thế nào trong các giải pháp hiện nay và trước đây.
Những người lao động nghèo này chính là lực lượng tiên phong phải đương đầu trước tiên với cạnh tranh toàn cầu, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO trong khi chưa hề được chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Họ chẳng hiểu toàn cầu hóa là gì nhưng các cam kết để gia nhập WTO đã dỡ bỏ ngay lập tức trợ cấp xuất khẩu nông sản và hàng dệt may; giảm ngay xuống mức thấp thuế suất nhập khẩu các mặt hàng nông sản, may mặc.
Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước đang kiểm soát hoàn toàn các ngành dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí được nuôi dưỡng và hưởng đặc quyền lâu nay, nắm giữ những nguồn lực lớn nhất của quốc gia thì vẫn tiếp tục được bảo hộ theo lộ trình từng bước 3 năm, 5 năm sau khi gia nhập WTO. Tiềm năng phát triển rất lớn của thị trường nội địa trong các lĩnh vực này, thay vì phải được dùng làm hậu phương vững chắc để tiến công ra thị trường toàn cầu, làm lực lượng tiên phong bước ra cạnh tranh để giảm áp lực cho những nông dân, công nhân may mặc cần thời gian để hiểu và chuẩn bị cho hội nhập, thì lại được quây rào để dành cho bầy thú điện tử thâu tóm.
Chuyện này khác gì trong một cuộc chiến, những người dân đen cùng đinh bị đưa ra trước để làm bia đỡ đạn trong khi quân chủ lực vẫn đang còn say sưa chè chén. Đến khi giặc vào tới thì hèn nhát, không phải là bỏ chạy mà là đầu hàng bán rẻ đồng đội. Thế nhưng những kết quả đạt được trong đàm phán WTO được ca ngợi là thành công, là ngoạn mục. Có thể dễ dàng đọc được trên các website của các bộ ngành để nghe họ khen tặng, tâng bốc về cái thành quả này như thế nào.
Hội nhập toàn cầu là một quá trình phải được bắt đầu một cách chủ động từ trước khi ký kết hiệp định quốc tế. Sự thụ động và chạy theo thành tích thì tránh sao khỏi rơi vào những cái bẫy đàm phán. Người ta không cần nhưng vẫn khăng khẳng đòi mở cửa xuất bản ngay. Còn ta thì châm châm bảo vệ sự kiểm soát nó tuyệt đối bằng mọi giá mà không hiểu rằng internet đã thay đổi mọi thứ. Nếu anh muốn giữ chặt cái này thì anh phải nhả cho tôi ngay cái khác: hoặc là nông sản và dệt may; hoặc là các dịch vụ tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, năng lượng – dầu khí. Họ muốn ta nhả cái thứ nhất để tạo bất ổn xã hội, mục tiêu lớn như vậy mà chẳng phải vất vả gì để đạt được. Họ thừa biết các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực dịch vụ này dư sức chi phối các quyết định đàm phán cuối cùng.
Đừng nghĩ là chính quyền kiểm soát báo chí, tuyên truyền mà dân chúng không đủ hiểu biết để nhìn ra những vấn đề quá lớn mà các chính sách vĩ mô đã tạo ra cho họ. Người dân thậm chí còn bảo rằng chẳng phải nhà nước mắc bẫy, chẳng qua vì quyền lợi cá nhân mà nhà nước đưa dân vào hoàn cảnh như ngày hôm nay. Luật thuế thu nhập cá nhân sắp có hiệu lực từ đầu năm sau sẽ là một giọt nước tràn ly đối với lòng dân.
So sánh chiến lược về lợi thế cạnh tranh giữa các quốc gia thì bộ luật này, với mức khởi đầu là 5% cho thu nhập 4 triệu đồng/tháng và 35% cho phần thu nhập từ 80 triệu đồng/tháng trở lên, đã đặt Việt Nam vào một quốc gia có tương lai dựa trên lao động giá rẻ thiếu kỹ năng, chứ không phải một nơi nuôi dưỡng chăm sóc cho con người có đủ tri thức để làm nền tảng phát triển vững chắc của đất nước. Chắc chắn rất nhiều nước đã vỗ tay vui mừng bộ luật này. Lại mắc bẫy hay do thiếu hiểu biết, người dân tự sẽ nhận ra và phán xét.
Không củng cố niềm tin thì hậu quả thật khó lường hết bằng các con số. Các tính toán kỹ thuật cho thấy khả năng tiền đồng sẽ nhanh chóng chỉ còn hơn 20 ngàn/USD. Nhưng một khi người dân không còn niềm tin gì vào nhà nước thì con số này có thể là 30 ngàn, 40 ngàn hay cao tới mức mà không ai có thể dự báo nỗi. Nó cũng không khác gì việc đáy chứng khoán được dự báo không biết bao nhiêu lần. Mức trên dưới 500 điểm như hiện nay vẫn chưa phải là đáy. Còn xa mới tới đáy vì bầy thú không chỉ muốn thâu tóm, mà là thâu tóm rất rẻ để dồn tiền cho sự thôn tính chính trị.
Vận nước đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Đây là một biến cố lớn sẽ chắc chắn tạo ra sự xoay chuyển. Con tạo xoay vần, nhưng xoay về đâu, đó là trách nhiệm của tầng lớp trí thức của đất nước. Những con Lạc cháu Hồng ưu tú sẽ tập hợp lại tạo nên sức mạnh của cả dân tộc thuộc mọi tầng lớp để hóa giải thế cờ, xoay chuyển biến cố thành một vận hội mới.
Có một Con đường như vậy.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Trong họa có phúc.
Trần Đông Chấn
Mùa xuân tháng 3, 2008
Nguồn: http://trandongchan.blogspot.com/search?updated-min=2007-01-01T00:00:00-08:00&updated-max=2008-01-01T00:00:00-08:00&max-results=4

Trần Huỳnh Duy Thức - Bình dị một nhân cách


Trần Huỳnh Duy Thức, ngày 20/01/2010, ông bị kết án 16 năm tù giam cùng 5 năm quản thúc với tội danh "âm mưu lật đổ chế độ"
conduongvietnam.org
Sài Gòn hai mùa mưa nắng. Tôi yêu thương nó, dù từ lâu rồi, Sài Gòn xấu xí, lem luốc và bạc thếch lòng nhân ái...

Ngày thơ dại và tinh nghịch của những thằng nhóc đầu trần khét nắng, bắn bi và tạt lon giữa trưa, tôi hay lân la và thèm hòa mình vào trò chơi dân dã. Sau những lần bị xa lánh, vì cái tội... "con nhà giàu", cuối cùng những thằng nhóc hàng xóm cũng xiêu lòng, khi tôi năn nỉ: "Cho tao chơi với". Chán những trò chơi, chúng tôi rủ nhau trèo vào sân nhà người khác để hái trộm ổi, chia nhau ăn.

Vài năm sau...

Khi ba và anh tôi đi tù, phản xạ tự nhiên của "tuổi biết buồn", tôi tự lánh xa tụi nó, chỉ chui rúc trong nhà, ngoại trừ những lúc cắp cặp đến trường. Giữa đời sống vật chất đủ đầy, nó bỗng trở nên vô nghĩa, khi gia đình gặp bất hạnh. Tôi thu mình lại...

Có lẽ từ đó, tôi không còn vô tư như chúng bạn. Lâu lắm, tình cờ gặp ngoài đường, tụi nó hỏi: Sao mày già quá vậy?! Tôi gượng cười, gật nhẹ đầu và lặng lẽ...

Thế hệ chúng tôi được nuôi dạy trong cách sống chan hòa, không tách biệt và không chọn chỗ đứng trên người khác.

Trong cuốn sách "Trần Huỳnh Duy Thức và con đường nào cho Việt Nam", tôi gặp lại [1] những lời dạy dỗ ngày xưa (trang 24/325):

"...Có một lần, Thức bỏ nhà đi bụi suốt mấy tháng hè hồi lớp tám. Chính nhờ lời cha dạy, phải học để làm người có ích đã kéo Thức ra khỏi những tháng ngày hư hỏng, trở lại mái trường với một quyết tâm học cho giỏi để gia đình không phải lo lắng vì mình. Ba Thức nói rằng ông cũng không dạy anh yêu nước. Ông chỉ hướng cho con mình sống có nhân cách và có ích, đừng vì mình mà làm tổn thương người khác, thì tự nhiên trẻ con lớn lên sẽ sống có trách nhiệm với mình và đất nước...". 

Giữa những mừng vui, khi tù nhân lương tâm được trả tự do - dù không tin "thiện tâm" của người CS - tôi nhớ về Trần Huỳnh Duy Thức với mức án tàn khốc: 16 năm tù giam và 5 năm quản chế! Từng choáng váng với mức án đó, tôi cứ ngồi suy nghĩ mãi về anh, như một tai ương định trước.

Trong các tù nhân lương tâm 10 năm trở lại đây, Trần Huỳnh Duy Thức được biết đến với tư cách doanh nhân trẻ thành đạt và giàu có một cách chân chính. Đó là điều vô cùng hiếm hoi trong cuộc sống ngày nay, gọi là "thành công", nhưng hầu hết được đo bằng kim tiền đi liền thủ đoạn.

Dư luận vẫn không quên, Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt với lý do ban đầu "trộm cước viễn thông". Sau khi quần nát sổ sách, theo thành ngữ "vạch lá tìm sâu", CSVN không tìm ra một chút sơ hở nào để làm bằng cớ. Rồi vụ án chuyển qua tội "kinh doanh trái phép". Manh mối để cố gán anh theo tội danh này, cũng không tìm ra nổi. Cuối cùng, người CS dùng điều 79 Hình luật kết tội anh.

Lúc bấy giờ, tôi kinh ngạc và thầm thán phục Thức, chỉ vì lý do đầu tiên duy nhất: Giữa trùng điệp văn bản gọi là "pháp lý" và chúng luôn sẵn sàng thay đổi - với bạo quyền, với guồng máy khổng lồ cùng chân rết dày đặc - để người CS dễ dàng ghép tội cho bất kỳ ai, nhưng họ đã thất bại trước anh.

Tôi nhìn Trần Huỳnh Duy Thức với tư cách một nhà quản trị giỏi, khi anh ung dung vượt thoát các loại bẫy rập, bởi không một hóa đơn nào - loại chứng từ dễ dàng vu khống nhất - bị bươi móc, coi như là tội phạm. Đó có thể xem là một kỳ tích ở xứ sở chuyên xài luật rừng, không phải ai cũng đủ khả năng đương đầu trước những lý lẽ ngược ngạo, sẵn sàng phủ chụp để đạt mục đích triệt tiêu những người mà giới cầm quyền CSVN coi là "nguy hiểm". Cũng từ thán phục đó, tôi quan tâm đến anh nhiều hơn.

Trong "định hướng dư luận" khác, nhóm "Nghiên Cứu Chấn" gồm Thức - Định - Long, bị lái sang cách nhìn: Những người "rủng rỉnh tiền", giờ chuyển sang ham hố và rắp tâm tranh giành "công danh - quyền lực" (?!).

Tôi tự hỏi, nếu thật vậy, có gì sai? Tại sao người tài (cứ cho rằng họ tự huyễn hoặc đi chăng nữa) không được phép thi thố và khẳng định bản thân? Điều quan trọng, quần chúng có công nhận những giá trị họ trình bày hay không? Thêm vào đó, sự ham muốn như vậy (cứ coi như viễn vông, quá lố) có làm hại xã hội không? Có kích thích các tài năng khác cùng bước ra đua chen, như trong một vườn hoa với hàng trăm hương sắc? Đó là một xã hội đa nguyên, chính người CS cố tình chối bỏ bằng mọi lý lẽ ác ý xuất phát từ ác tâm.

Ông Trần Quốc Hải -  44 tuổi, chế tạo ra chiếc máy bay đầu tiên ở Việt Nam - ở tuổi 54, vừa được Campuchia phong tặng danh hiệu "Đại Tướng Quân" là minh chứng tàn nhẫn nhất cho bản chất hẹp hòi của người CS với ca dao [2]:

Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau


Cũng may (!), lĩnh vực ông Hải và con trai có năng khiếu, hứng thú, say mê là khoa học kỹ thuật, nếu thay bằng khoa học chính trị, hẳn danh sách hơn 600 tù nhân lương tâm Việt Nam [3] được bổ sung thêm hai người?!.

Danh tiếng Đại Tướng Quân Trần Quốc Hải bắt đầu lan xa, có chuẩn bị cho hình ảnh một vết cuốc thẳng tay cắm phập - trước mũi giày tiến lên sáng tạo của hai cha con người nông dân bình dị - xuất phát từ bản chất ti tiện và đố kỵ của người CS? Tai họa và thảm họa cho mảnh đất hình chữ S là như thế!

Đó cũng là câu trả lời cho hơn bảy năm về trước, khi nhóm "Nghiên Cứu Chấn" bị xem là "tổ chức phản động" thay vì là chất men tạo cảm hứng cho Việt Nam phát triển trong ôn hòa. Mẹ Việt Nam quả thật đớn đau!

Đại Tướng Quân Trần Quốc Hải đã bán chiếc máy bay đầu tay [4] cho viện bảo tàng Moma tại Mỹ. Toàn bộ số tiền bán được, ông dồn hết cho công việc nghiên cứu các công trình khác.

Số tiền ông Hải - ở tuổi tứ tuần - cầm trong tay, có lẽ ít hơn nhiều so với hàng trăm tỉ đồng - lúc Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt - có được ở tuổi 43.

Gần sáu năm trôi qua, nếu tính chỉ số lạm phát và khả năng chèo chống của Thức trong nền kinh tế ngập tràn tuyệt vọng, biết đâu con số đó đã hơn ngàn tỉ?! Nỗi chua chát đó, nếu có, nó không bao giờ hằn lên trên nếp trán người CS đang vật vã với "nguồn thu ngân sách" trong tình hình "vay chỉ để ăn tiêu" (!).

Ôi! Nhân tài Việt Nam! Sao khốn đốn đến vậy?!

Cả danh dự, sự nghiệp, tài sản của doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức bị nhà cầm quyền CSVN đang tâm đánh sập vào ngày 24/5/2009.

Tuy vậy, Trần Huỳnh Duy Thức bình thản thưa với cha mình: "...Nếu muốn sống ở nước ngoài, như ba cũng biết, thì con đã có quốc tịch khác từ lâu rồi [...] mong ba hiểu cho con và ủng hộ con đến cùng để đòi lại công lý cho con, chứ không chỉ là tự do thân thể. Con tin rằng chúng ta sẽ làm được, sẽ rất đau xót nếu tổ quốc từ chối mình để mình phải nghĩ đến việc tị nạn, phải không ba?".

"Sao Thái Bạch phá sạch cùm gông" - đang ánh xạ lên con người bình dị Trần Huỳnh Duy Thức [5]. Tôi tin như thế!

(Viết nhân sinh nhật của doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức 29/11)

Nguyễn Ngọc Già
[1] http://tranhuynhduythucofficial.files.wordpress.com/2013/06/tre1baa7n-hue1bbb3nh-duy-the1bba9c-con-c491c6b0e1bb9dng-nc3a0o-cho-vie1bb87t-nam_ptcc491vn.pdf

[2] Do chính từ điển của nước CHXHCNVN giải nghĩa: Những người cùng quan hệ huyết thống, những người dân cùng một nước, phải biết đấu tranh vì mục đích chung của cộng đồng, đồng thời phải biết thương yêu, đùm bọc lấy nhau, đừng gây mâu thuẩn, xung đột vì những mục đích cá nhân, ti tiện. http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/2604-10-633631393055558420/K---Ke-khong-an-het-Kinh-nhi-vien-chi/Khon-ngoan-doi-dap-nguoi-ngoai-ga-cung-mot-me-cho-hoai-da-nhau.htm

[3] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/01/140117_vnhr_hearing.shtml

[4] http://baodatviet.vn/khoa-hoc/khoa-hoc/may-bay-cua-nong-dan-viet-duoc-du-trien-lam-uc-3210029/

[5] Trần Huỳnh Duy Thức, 49 tuổi - Bính Ngọ - mạng Thiên Hà Thủy. Năm nay là Giáp Ngọ ứng với sao hạn Thái Bạch. Sao Thái Bạch không hẳn là một sao xấu, với mối tương quan phức hợp trong "tứ trụ" của lá Tử Bình, bởi nó còn phụ thuộc vào giờ sanh và phúc ấm của từng người trong từng gia đình.

Tị nạn giáo dục : Còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi hết…

Phù Sa phỏng vấn nhà văn Dạ Ngân
Du học để “tị nạn giáo dục”
Các ông bố, bà mẹ hiện đại ở các đô thị đang có xu hướng “ấn” con đi du học càng sớm càng tốt ? Xu hướng này phản ánh điều gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay ?
Xin đừng quên người Việt mình rất chăm con, bất đắc dĩ người ta mới chịu xa con sớm và họ biết rõ, con mình sẽ “lóng ngóng” ở xứ người một thời gian dài.
Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm ? Là vì cung cách của nền giáo dục không còn khiến người ta an tâm.
Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách và phải học theo kiểu “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm học nếm mãi.
Ở khía cạnh giáo dục, chị lý giải hiện tượng này như thế nào ?
Ngày nay, nhiều người Việt ra nước ngoài là để tị nạn giáo dục.
Tình hình đã mười mươi như vậy, nhưng hình như phía vĩ mô không muốn thay đổi. Làm giáo dục mà không triết lý giáo dục thì sao thiết kế được?
Sao các môn xã hội không có sức hấp dẫn mà còn khiến Học Sinh bội thực, ngán ngẩm ? Các em không thích môn văn, không yêu môn sử, không thiết tha môn địa, không “vào” với môn đạo đức công dân? Vậy thì giỏi toán và giỏi các môn tự nhiên để làm gì, để làm người Việt ngô ngọng hay làm rô – bốt ?
Tôi thấy bất an với kiểu làm sách giáo khoa, tôi ngạc nhiên với sự im lặng của chính các thầy cô trong ngành giáo dục. Họ biết cả đấy, họ chán đấy mà họ không làm gì, không ai lên tiếng, họ sợ họ hèn hay họ đã chai lì cả rồi ?
Nếu tôi là một quan chức trong ngành giáo dục thì chắc chắn tôi sẽ từ chức. Không làm gì nổi nữa, chỉ có cách cho con cho cháu “tị nạn” mà thôi.
Không phải chép văn mẫu đã là “được làm người”
Một gia đình có con trúng học bổng Singapore năm 14 tuổi đã phấn khích thốt lên: “ôi, cháu tôi đã được làm người”.
“Ôi, cháu tôi được làm người” là một câu nói có vẻ quá lên nhưng bên trong nó có sự thật đó chứ!
Hãy xem trường điểm và trường chuyên đã làm cho cha mẹ các em phải chạy chọt và gây thêm ách tắc giao thông như thế nào? Hãy xem tuổi thơ của các em nhỏ đang được chơi hay đang bị học kiểu “nhồi thức ăn cho ngỗng”? Một cô cháu họ của tôi kể, trong thực hành môn Văn lớp 4 của con nó có thứ đề đại loại: “Hãy viết một bức điện tín”. Chính tôi đã từng giúp cho đứa cháu ngoại học lớp 5 ở Hà Nội làm đề ngoại khóa là “Hãy viết suy nghĩ của em về chiến thắng của trận Điện Biên Phủ trên không?”.
Có phải bắt các em làm chính trị gia hay làm công dân sớm? Sao không để cho các em tiểu học được phát triển tự nhiên cả trong tình yêu đất nước, gia đình, thầy cô và tiếng Việt mà cứ làm cho chúng chán ngấy lên vậy?
Cho con du học là xu hướng đã có từ thời thuộc Pháp, để con cái được học cái văn minh, được sống và được thụ hưởng môi trường văn hóa cao. Tại sao người ta thích cho con đi Singapore, đảo quốc ấy có đúng là thiên đường ở châu Á mà chúng ta đang mơ ước không?
Nhưng chị có nghĩ rằng bọn trẻ sẽ có những tổn thương tâm lý vì xa bố mẹ từ khi còn quá nhỏ?
Tôi không có con nhỏ nhưng tôi đã khuyến khích và đóng góp cho cháu ngoại của tôi vào trường quốc tế từ đầu cấp II. Vì sao? Vì ở đó nó được học chương trình giảm tải, nó được học tiếng Anh bằng phương pháp đúng và không phải làm văn mẫu.
A ha! Riêng việc không phải làm văn kiểu học thuộc lòng và chép nguyên xi văn mẫu đã là “được làm người” rồi. Nó học văn một cách hào hứng và tiếng Việt của nó dậy hương là vì nó được làm văn theo suy nghĩ của mình. Cả nhà xúm nuôi một đứa bé, cực nhưng mà vui, không bị sốc, không bị stress vì “né” được nhiều “ngón hành hạ” của ngành giáo dục trong nước.
Các trường ở Singapore họ hay nhảy vào các trường điểm và trường chuyên của chúng ta để “hớt váng” từ năm lớp 9 hoặc lớp 10.
Số đi du học tự túc thì đủ lứa tuổi. Các em phải chịu thiệt thòi nhưng nền giáo dục của các nước văn minh rèn người khá hay.
Theo tôi, đi từ đầu cấp III là vừa, cho đi sớm hơn là sẽ có hậu quả.
Con mình nuôi lớn mà người ta “dùng”
Việc mỗi gia đình tự lo cho tương lai của con cái như vậy sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt cho đất nước ?
Rõ ràng là nhân tài sẽ thất thoát. Con cái mình nuôi lớn mà người ta dùng, toàn là người thông minh và nhiều người tài đấy chứ. Có đau không, có ức không? Đành chịu.
Các vị ở trên cao có xót không, xót sao không tìm cách và không thay đổi?
Liệu gia đình và chính các em Học Sinh đó có phải trả cái giá nào không ?
Đừng có mà đùa dai với truyền thống hiếu học của người Việt. Sẽ còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi bằng hết, nếu những người cầm trịch của chúng ta không giật mình thì sẽ không cứu vãn được làn sóng tị nạn này đâu.
Rồi sẽ có thêm những thế hệ Việt kiều không biết tiếng Việt, quê hương đất nước xa vời. Đừng nghĩ người Việt sẽ cố kết tình quê hương và đất nước như cộng đồng người Tàu. Chúng ta là những người Việt trần ai, rất dễ bời rời và mất gốc khi ở xứ người.
Nhà văn, nhà báo Dạ Ngân sinh năm 1952, từng tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du. Là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết nổi tiếng. Trong đó, đặc biệt và gây tiếng vang nhất là tiểu thuyết “Gia đình bé mọn” đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội.

Nguồn: http://www.chuacuuthe.com/2015/05/ti-nan-giao-duc-con-di-nhieu-di-trong-rong-di-het/